Thứ Tư, 6 tháng 3, 2013

Tranh chấp đất đai với cả em gái là vợ liệt sỹ

Xahoi - Nhiều lần bà Cầm đến đánh, chửi bới rồi đuổi bà Cải ra sống ở ngoài không cho ở căn nhà mẹ đẻ để lại.

Ngôi nhà của bà Cải đang bỏ không, không có nơi thờ tựa liệt sỹ Phạm Văn Có
Ngôi nhà của bà Cải đang bỏ không, không có nơi thờ tựa liệt sỹ Phạm Văn Có
Mới đây, PV nhận được đơn phản ánh của bà Nguyễn Thị Cải (SN 1941), là vợ của liệt sỹ Phạm Văn Có và em của bà Cải Là bà Nguyễn Thị Y đều trú tại Thôn 3 xã Quảng Hưng, TP Thanh Hoá. Bố mẹ bà lấy nhau và sinh được 4 chị e gái, lớn lên các chị của bà đều lập gia đình, bà là con út nên khi các chị đi lấy chồng hết bà đã ở nhà chăm sóc bố mẹ già. Mãi sau này bà xây dựng gia đình với ông Phạm Văn Có, được gia đình hai bên nội ngoại cùng 3 chị gái của bà và mẹ bà là bà Phạm Thị Le viết giấy yêu cầu anh Có ở lại nhà và trao toàn bộ tài sản cho vợ chồng bà, để vợ chồng bà Cải, anh Có phụng dưỡng mẹ già. Thời điểm đó các chị của bà Cải đã có gia đình nên cả nhà xem anh Có như con đẻ và làm giấy xác nhận là con đẻ của bà Le. Các giấy tờ đó được Hợp tác xã Hưng Thành xác nhận ngày 24/10/1961. Đến năm 1962 chồng bà là ông Phạm Văn Có lên đường đi chống Mỹ cứu nước, bà Le được hưởng mọi chế độ ưu tiên của một người con trai đi B là anh Phạm Văn Có.
Đến năm 1967 anh Có hi sinh. Trước khi hi sinh anh Phạm Văn Có đã có với bà Cải một đứa con gái là chị Phạm Thị Hải. Khi chồng bà hi sinh Đảng bộ và nhân dân xã Quảng Hưng đã xây cho bà một ngôi nhà ba gian lợp kè, xây xong UBND xã Quảng Hưng đã làm lễ truy điệu cho anh Có tại căn nhà mà lâu nay mẹ con bà và anh vẫn ở. Đến năm 1972 bà tái giá với người khác có tên là Nguyễn Văn Tính, trú tại xã Thiệu Vận, Thiệu Hoá, Thanh Hóa. Sau khi bà Cải xây dựng gia đình với ông Tính, bà Le cũng đã viết giấy nhận ông Tính như con trai của mình và đồng ý cho ông Tính ở lại để chăm sóc bà Le khi già yếu, và giấy này cũng được UBND xã Quảng Hưng xác nhận và đóng dấu.
Với những chứng cứ như trên, không hiểu tại sao đến nay bà Nguyễn Thị Cằm là chị thứ 3 của bà Cải đã nhiều lần đến đánh, chửi bới rồi đuổi bà Cải ra sống ở ngoài không cho ở căn nhà đó rồi nói “bà Cải đã lấy chồng thì phải theo chồng chứ không được ở căn nhà đó nữa”. Vì thế, năm 1972 bà Cải lấy chồng khác và theo chồng đi định cư ở nơi khác. Trong thời gian đó bà Le được bà Cằm chăm sóc. Trước khi qua đời, bà Cằm đã ép mẹ điểm chỉ vào bản di chúc trong đó có đoạn giao căn nhà đó cho bà Cằm.
Vì bức bác không có nơi ở, hai vợ chồng bà Cải đã ra nhà văn hóa xã để ở nhờ. Thương cảnh bà vất vả sống tạm bợ, cán bộ và nhân dân xã Quảng Hưng đã dựng tạm một căn lền gần UBND xã rồi cho bà sinh sống. Căn nhà lụp xụp chỉ đủ kê một chiếc giường ngủ và không có nơi để thờ phụng chồng là liệt sỹ.
Mang câu chuyện khúc mắc của chị em bà Cải, đặc biệt là vấn đề tranh chấp đất đai dẫn đến việc thờ phụng liệt sỹ Phạm Văn Có không đến nơi đến chốn, ông Trần Văn Xuân, phó CTUBND xã Quảng Hưng cho hay: "Đối với sự việc nhà bà Cải, chúng tôi đã hoà giải rất nhiều lần song chị em bà vẫn tranh chấp với nhau về mảnh đất do mẹ của chị em các bà để lại. Nếu theo đúng luật thì xẽ giải quyết theo di chúc mà bà Le đã để lại cho bà Cằm, nhưng đến nay chúng tôi vẫn chưa giải quyết vì bà Cải vẫn còn đang kiện cáo về mảnh đất đó".
Đơn thư tố cáo của bà Cải
Khi hỏi là sự việc đã xảy ra trên địa bàn xã đã nhiều năm qua thì xã đã giải quyết bao nhiêu lần? thì ông PCT xã này đã không trả lời được.
Hỏi về hồ sơ của vụ việc thì được ông Xuân lấy ra bộ hồ sơ ra song khi kiểm tra thì không có bất cứ một văn bản hoà giải nào có tính pháp lý như ông Xuân nói trước đó, (tức là có dấu của UBND xã đóng).
Cũng liên quan đến vụ việc, khi hỏi về di chúc của bà Le để lại cho bà Cằm có sự chứng kiến của một ai đó có uy tín trong dòng họ hay đại diện làng xóm, hoặc chính quyền địa phương không? thì ông Xuân khẳng định ngay là “có chứ ”, nhưng khi hỏi để xem di chúc đó thì lại không có tại ủy ban (kể cả bản sao). Lý do ông PCT xã này đưa ra là “Di chúc của họ chúng tôi giữ làm gì” ?.
Sau một hồi đối chất với PV, ông chủ tịch ủy ban xã là ông Nguyễn Văn Sướng, ngồi ngay bên cạnh đã phải cáu lên do cấp dưới của mình trả lời một cách cẩu thả với PV. Ông chủ tịch xã nói rằng "nếu có thì các anh nói có, nếu không thì nói không, chứ các anh nói lấp lửng lúc có, lúc không như thế ai mà biết thế nào". Sau hồi tranh cãi, ông Xuân đã giao cho một nhân viên đi lấy di chúc đó về để chứng minh thì anh cán bộ đã không lấy được cuốn di chúc đó.
Bà Cải đang trình bày sự việc với PV
Nếu làm theo cách trả lời của ông Phó chủ tịch xã này thì rõ ràng ở đây đã có sự bao che, vụ lợi của chính quyền sở tại trong việc làm di chúc của bà Cằm, vì khi điều tra thì được biết trước đó bà Le đã để lại di chúc cho bà Cải từ ngày bà Cải còn đang chăm cụ Le, nhưng đến cuối đời do vụ lợi và thấy mảnh đất đó có giá trị nên bà Cằm đã mang bà Le về nuôi, rồi lập nên một di chúc ép bà Le điểm chỉ vào đó nhằm chiếm đoạt mảnh đất. Bản di chúc được làm khi bà Le không tỉnh táo minh mẫn.
Rõ ràng việc tranh chấp đất đai của chị em bà Cải, Cằm ở đây đang có sự bao che, dung túng của chính quyền xã Quảng Hưng cũng như của TP Thanh Hóa nên đã để cho sự việc kéo dài nhiều năm nay, nên bà Cải vẫn tiếp tục đi khiếu kiện mà chính quyền sở tại vẫn không có cách giải quyết, khiến cho vong linh của liệt sỹ không nơi thờ tự một cách tử tế. Hơn thế nữa hậu quả khiến một người vợ của liệt sỹ không có nơi ăn ở đàng hoàng phải sống trong căn nhà lụp sụp, tồi tàn.
Trước việc làm trên của UBND xã Quảng Hưng mong rằng các cấp thẩm quyền sớm làm sáng tỏ sự việc tránh việc kiện cáo kéo dài gây mất trật tự xã hội, đảm bảo quyền lợi cho người có công.

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2013

Bán mua sự 'sung sướng' cho đàn ông và 'chân truyền' nghề cho con cái

tin an ninh hinh su - Trong nhiều thế hệ có một ngôi làng ở Ấn Độ đang tồn tại một phong cách sống kỳ lạ đó là nghề “bán trôn nuôi miệng”...

Nhưng tôi không thể bỏ nghề được, cái dạ dày sôi lên vì đói đã níu kéo tôi buộc phải tiếp tục hành nghề” (ảnh minh họa)
Nhưng tôi không thể bỏ nghề được, cái dạ dày sôi lên vì đói đã níu kéo tôi buộc phải tiếp tục hành nghề” (ảnh minh họa)
Bằng chứng là phụ nữ ở cái làng này đi khắp đất nước hoặc ở lại chính ngôi làng để làm nhiệm vụ mua sự sung sướng cho đàn ông. Tất nhiên họ cũng kiếm tiền bằng công sức mình đã bỏ ra và cái nghề này mặc nhiên tồn tại và hoàn toàn không bị coi khinh. Không chỉ có phụ nữ trong làng hành nghề mại dâm, khi đã cao tuổi, họ còn “chân truyền” cho con gái để họ tiếp bước kiếm ăn như mẹ chúng đã làm.
Đau đớn “thánh địa sung sướng” ở Ấn Độ
Nat Purwa là một ngôi làng ở bang Uttar Pradesh của Ấn Độ, nơi này nằm cách tỉnh lị Lucknow chỉ 2 giờ lái xe. Vào mỗi buổi sáng, cảnh người ta thường thấy là có đến hàng tá thiếu nữ trẻ tuổi vận y phục rách rưới đang đứng vẻ như chầu chực dọc theo các tuyến phố đầy bụi đất. Không khó để có thể nhìn thấy những cái bụng ỏng, suy dinh dưỡng của những đứa con họ. Chẳng mấy chốc lũ trẻ biến mất vào các cánh đồng, xua đuổi bầy gia súc đi lạc. Giống như các ngôi làng khác xung quanh đây, làng Nat Purwa, mại dâm đã trở thành một nghề mang tính chất “cha truyền con nối”, được truyền từ thế hệ phụ nữ này sang thế hệ phụ nữ khác, cứ đời nối đời, người mẹ sau khi hết “date” sẽ “chân truyền” nghề cho chính các con gái của mình. Khi Chandralekha được 15 tuổi, bà bước chân vào “làm nghề” như bao cô gái khác trong làng. Trên hãng tin AL Jazeera, Chandralekha giải thích về cái nghề mà bà đang dấn bước nghe có vẻ ngây thơ và cay đắng rằng: “Bà ngoại tôi nói: Cả cái làng này đều hành nghề mại dâm. Liệu có khác biệt gì khi cháu hòa nhập vào cái thế giới này? Chính bà ngoại đã dắt tay tôi từ những ngày đầu chập chững hành nghề”.
Với khuôn mặt chằng chịt vết nhăn của người phụ nữ ở độ tuổi 50, Chandralekha thấm thía trần tình về cuộc đời khổ ải của bà: “Đời tôi là một bộ phim dài tập buồn tủi và day dứt. Tôi đã “qua đêm” với lần lượt 6 người đàn ông trong lần “thử nghiệm” buổi đầu. Hàng ngàn người đàn ông đã đến với chỉ một người phụ nữ. Ngay từ lúc bắt đầu hành nghề, tôi đã cảm thấy nhục nhã khi bị xem là món đồ giải trí trong tay những khách làng chơi lắm tiền. Nhưng tôi không thể bỏ nghề được, cái dạ dày sôi lên vì đói đã níu kéo tôi buộc phải tiếp tục hành nghề”. Nhưng rồi chịu không thấu khi nhiều lần bị lạm dụng tình dục, Chandralekha đã quyết định đoạn tuyệt cái nghề mà bà đã dấn thân suốt nhiều năm qua. Người đàn bà bất hạnh nói: “Tôi nhận ra rằng với cánh đàn ông, tôi chỉ là thứ đồ giải trí tầm thường, cốt chỉ để thỏa mãn dục vọng của họ, hoàn toàn không có bất kì sự tôn trọng nào cả. Con điếm thì luôn là một con điếm”. Trong suốt nhiều thập kỉ, những phụ nữ trong cộng đồng Nat đã sống một cuộc đời chịu quá nhiều thiệt thòi. Trước khi mại dâm được xem là môt nghề và được xem như là một tiêu chuẩn hành nghề “bằng vốn tự có” để kiếm miếng cơm, trong cộng đồng Nat đã có lịch sử là những người làm nghề mua vui, giải trí cho xã hội, và một số người vẫn tiếp tục giữ vững truyền thống này như Chandralekha và hàng ngàn phụ nữ khác từ ngôi làng Nat Purwa, một nhánh dân cư thuộc cộng đồng dân cư Nat.
Vào năm 1871, Đạo luật bộ lạc hình sự (CTA) đã được ban hành dưới thời kì người Anh cai trị Ấn Độ, trong đó phân loại rằng có một số bộ lạc đang tham gia vào các “sinh hoạt phạm tội”. Cộng đồng Nat vì thế bị lọt vào tầm ngắm như là một trong những bộ lạc có hành vi “phạm tội”. Bà Madhu Kishwar, biên tập viên tờ báo Manushi kiêm diễn đàn về quyền phụ nữ, giải thích rằng: “Họ (người Nat và các bộ lạc phạm tội khác) được ám chỉ là các vũ công, diễn viên nhào lộn, nghệ sĩ tung hứng và các bậc phù thủy. Trong suốt thời kì thuộc địa, người Anh đã đặt ra ngoài vòng pháp luật các hoạt động của họ. Họ thường bị đánh đập, bắt giữ bị nhốt và các hành vi ngược đãi vẫn còn tiếp diễn. Chính các hành vi cực đoan này của nhà cầm quyền Anh đã phần nào làm cạn kiệt nguồn sinh kế của họ, đặc biệt là không còn cơ hội để kiếm ăn đối với người phụ nữ. Vì vậy, cực chẳng đã, họ buộc phải bó chặt mưu sinh bằng nghề mại dâm”. Bà Madhu Kishwar nói thêm rằng trong suốt hơn 6 thập niên sau khi Ấn Độ giành được độc lập từ tay người Anh, khuôn khổ luật pháp của nước sở tại vẫn xem cộng đồng Nat nhiều thiệt thòi là một “lăng kính văn hóa của thời kì thuộc địa”. Qua hãng tin AL Jazeera, bà Mishwar nói: “Tôi đã đệ trình trường hợp của người Nat lên Tòa án tối cao. Đó là một hành trình dài nhưng tôi quyết không bỏ cuộc. Tôi nghĩ rằng cần có một sự thay đổi lớn về “tư duy thực dân” trong người dân Ấn nhằm tạo ra một thay đổi thực sự trên đất nước này”.
Một hiện tượng tình dục của Ấn Độ?
Làng Nat Purwa không phải là nơi duy nhất nghề mại dâm truyền thống. Tiến sĩ hàn lâm Anuja Agrawal, người có nhiều năm nghiên cứu về đề tài nhạy cảm này, cho hay rằng thật khó để xác định chính xác có bao nhiêu “làng mại dâm” trên khắp đất nước Ấn Độ. Bà Anuja Agrawal giải thích: “Các “làng sung sướng” phân bố rộng khắp các bang Uttar Pradesh, Madhya Pradesh và Rajasthan. Và giống như cộng đồng Nat, thì những cộng đồng khác như Bedia, Faasi và Banjar cũng hành nghề này. Mại dâm được xem là một chiến lược sống còn trong số các cộng đồng dân cư này”. Bà Anuja Agrawal cho hay rằng tất cả các cộng đồng này đều có chung một sợi dây liên kết: “Họ chia sẻ một quá khứ đặc biệt. Tất cả họ đều là những bộ lạc du mục, những người đã định cư trong các ngôi làng nhỏ”. Trong quyển sách của mình mang tựa đề “Phụ nữ di cư và nghề nghiệp”, bà Anuja Agrawal viết về phụ nữ trong cộng đồng Bedia và “tính hướng” của họ đối với hoạt động mại dâm. Có một “không gian gia đình” cho nghề kiếm ăn này.
Không chỉ phụ nữ mà ngay cả cánh đàn ông cũng tham gia vào hoạt động mại dâm để tăng thêm thu nhập cho gia đình. Không chỉ miền Bắc và miền Trung, mà ngay cả miền Nam Ấn Độ, truyền thống Devadasi vẫn đảm bảo rằng công việc tình dục là nghề nghiệp chính cho các phụ nữ tại những cộng đồng dân cư ở đây. Trong suốt thời kì Tiền thuộc địa, Devadasi thường là các vũ công biểu diễn tại các ngôi đền, những người được cho là đã “kết hôn” với các vị thần trong các ngôi đền. Thế nhưng, sang thời cai trị của người Anh, những vũ công biểu diễn Devadasi bị xem là một hành vi phạm tội, khi các nam giới Devadasi bị cấm biểu diễn thì cánh phụ nữ buộc phải “bán thân” để kiếm miếng ăn cho gia đình. Kể từ đó, nghề tình dục được xem là “nghề truyền thống” tại những cộng đồng dân cư này. Qua nhiều năm, phụ nữ tại các cộng đồng này đã di cư đến các trung tâm đô thị lớn như Delhi, Mumbai, Kolkata và thậm chí khá đông phụ nữ Ấn đã bay sang các đô thị phồn thịnh như Dubai để “hành nghề”.
“Tôi nhận ra rằng với cánh đàn ông, tôi chỉ là thứ đồ giải trí tầm thường, cốt chỉ để thỏa mãn dục vọng của họ, hoàn toàn không có bất kì sự tôn trọng nào cả. Con điếm thì luôn là một con điếm” (ảnh minh họa).
Bà Anuja Agrawal khẳng định: “Ngay cả nếu bạn đi đến các nhà thổ và các khu “đèn đỏ” tại những khu đô thị lớn, bạn sẽ tìm thấy những phụ nữ đến từ các “cộng đồng tình dục” đang hành nghề. Một nghiên cứu đã ước tính rằng có khoảng hơn 1% phụ nữ trưởng thành ở Ấn Độ có thể tham gia vào nghành công nghiệp tình dục. Chính phủ Ấn cũng dã áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để phục hồi nhân phẩm cho những nữ công nhân tình dục đồng thời bảo vệ cho con cái của họ. Tháng 10/2012, chính quyền New Delhi đã đưa ra một đề xuất về một chương trình chung cho các công nhân tình dục. Bà Ratna Prabha từ Bộ Phát triển phụ nữ và trẻ em Ấn Độ (MWCD) cho biết: “Thực chất, chúng tôi chỉ mới bắt đầu làm việc với các công nhân tình dực từ những cộng đồng chịu nhiều thiệt thòi. Tại những bang như Maharashtra, Andhra Pradesh và Karmataka, chúng tôi đã bắt đầu làm một cuộc khảo sát trực tiếp. Chúng tôi đang cố gắng tìm ra các nhu cầu về sức khỏe, giáo dục, nhà ở và các nhân tố kinh tế khác của họ. Chúng tôi cũng đang tìm hiểu nhu cầu từ con cái của họ hoặc điều tra về thứ mà họ muốn khi đã có tuổi. Trong tất cả các bang này, chúng tôi cùng chung tay làm việc với chính quyền bang và các tổ chức phi chính phủ danh tiếng”.
Xóa bỏ sự kì thị về “ngôi làng con hoang”
Chúng tôi trở lại làng Nat Purwa, lũ trẻ đang vô tư nô đùa trên các cánh đồng. Khi được hỏi tên, lũ trẻ chỉ nói được tên gọi do cha mẹ chúng gọi, còn họ thì quên tiệt hoặc ậm ừ bảo chẳng biết. Có lẽ lũ trẻ cũng chẳng biết gì thật. Làng Nat Purwa từ rất lâu rồi bị người ta kì thị gọi bằng cái tên chẳng dễ nghe chút nào: ngôi làng con hoang. Đơn cử như anh Ram Babu, một nhà nghiên cứu đang làm việc cho một tổ chức phi chính phủ ở địa phương gọi là Qũy sự thật Asha, nói rằng mình từng phải đối mặt với nỗi sỉ nhục từ phía xã hội khi Ram Babu ngậm ngùi nói: “Cậu là con của ai? Có phải cậu là con trai của gái điếm? Chắc chắn cậu là một đứa con hoang? Không một ai biết đích xác về cha của đứa trẻ. Đây là những câu hỏi xoáy óc mà hết thảy chúng tôi đều phải đối mặt. Tôi chắc chắn những đứa trẻ như tôi đều bị tổn thương sâu sắc bởi những câu hỏi kiểu đó”.
Mặc dầu vậy, theo quan điểm của Ram Babu thì cách tốt nhất để xóa bỏ “thành kiến con hoang” là phải làm việc năng nổ nhằm hướng tới một tương lai tốt hơn. Trên hãng tin Al Jazzera, Ram Babu nói: “Ít nhất 30% phụ nữ trong làng Nat Purwa vẫn đang hành nghề mại dâm. Nếu bạn muốn thấy được sự tiến bộ rõ rệt, cách tốt nhất là bạn nên cung cấp cho họ một chiếc cần câu cơm. Nếu họ nhận thấy chiếc “cần câu cơm” đó có thể nuôi sống được bản thân thì tất cả sẽ tự động từ bỏ nghề mại dâm. Theo ý tôi, thiếu sót trong khâu tuyên truyền, giáo dục đang làm chậm quá trình đổi mới nhận thức. Đó là một vấn đề lớn ở đây. Khi không có tuyên truyền và giáo dục, tất cả đều có thể sa cơ lỡ bước, lầm đường lạc lối.
>>  tin 113